Chuyện kể
Thuở nhà Chu mới dựng nghiệp ở phương Bắc, vua Thành Vương hãy còn ít tuổi, mọi việc lớn trong thiên hạ do người chú là Chu Công Đán thay mặt trông coi. Chu Công đặt ra lễ, chế ra nhạc, trị nước yên ổn, tiếng lành đồn ra bốn cõi. Lính giữ cổng thành Cảo Kinh, kinh đô nhà Chu, vốn quen mắt với đủ hạng khách bốn phương. Vậy mà một hôm, chính họ cũng phải đứng sững.
Ngoài cổng có một đoàn người lạ. Tóc họ cắt ngắn, đầu để trần giữa nắng. Chân họ không giày không dép. Trên da thịt họ xăm những hình vằn vện. Họ gánh theo lồng tre, trong lồng có con chim trắng muốt từ đầu đến đuôi, giống chim cả đất Chu chưa ai từng thấy. Lính hỏi, họ đáp. Nhưng lời họ nói ra, không một ai ở cổng thành hiểu lấy một tiếng.
Quan nhà Chu đi tìm người phiên dịch. Người dịch thứ nhất nghe rồi lắc đầu. Phải tìm người thứ hai dịch cho người thứ nhất, người thứ ba dịch cho người thứ hai, lời chuyền qua mấy tầng lưỡi mới thành nghĩa. Bấy giờ triều đình mới vỡ lẽ: đoàn khách tự xưng là Việt Thường thị, bề tôi của vua Hùng, vua nước Văn Lang ở phương Nam xa, ngoài núi ngoài biển, nơi chưa từng có người Chu nào đặt chân tới.
Số là ở phương Nam thuở ấy, trời đã ba năm không đổ mưa dầm, không nổi gió dữ; ngoài biển ba năm liền không dậy sóng lớn. Người phương Nam nhìn trời nhìn biển, bảo nhau: trời đất yên hòa lâu thế này, ý chừng bên Trung Quốc có bậc thánh nhân. Vua Hùng bèn sai bề tôi lên đường một chuyến, đem theo chim trĩ trắng, giống chim quý của núi rừng phương Nam, làm quà ra mắt, để xem tận nơi bậc thánh nhân ấy là người thế nào.
Chu Công cho vời đoàn khách vào. Ngài hỏi chuyện ăn ở nơi quê nhà họ. Sứ giả kể: người nước tôi cắt tóc ngắn, để đầu trần, xăm hình lên mình, đi chân đất. Toàn những phong tục triều đình nhà Chu chưa từng nghe nói tới. Vị nhiếp chính coi cả thiên hạ phương Bắc, hóa ra, không biết lấy một điều về xứ sở của những người đang đứng trước mặt mình.
Chu Công lại hỏi: “Vì cớ gì mà các ngươi đến đây?”
Sứ giả thưa: “Trời không mưa dầm gió dữ đã ba năm, ngoài biển không nổi sóng lớn cũng đã ba năm. Ý chừng Trung Quốc có thánh nhân, nên chúng tôi đến.”
Câu trả lời ấy làm Chu Công lặng đi. Những người này không xin phong, không cầu cạnh. Họ nghe trời đất báo có thánh nhân thì vượt núi vượt biển đi tìm, và mang theo con chim đẹp nhất của xứ mình làm quà gặp mặt. Ngài thở dài mà rằng: “Chính lệnh không thi hành tới đâu thì quân tử không bắt người nơi ấy thuần phục mình. Đức trạch không tới được người thì quân tử không hưởng lễ vật của người.” Nhà Chu xưa nay chưa từng làm được điều gì cho đất phương Nam; Chu Công không dám ngồi ngôi bề trên mà nhận lễ. Ngài nhớ lời Hoàng Đế thuở trước từng dặn: “Giao Chỉ xa xôi ở cõi ngoài, không được xâm phạm đến.”
Sứ giả ở lại đất Chu ít lâu. Đến khi sửa soạn ra về, người phương Nam nói mình quên mất đường về. Chu Công không giữ khách. Ngài sai làm năm cỗ xe, trên mỗi cỗ có hình người gỗ giơ tay trỏ, tay luôn quay về phương Nam, đi đâu cũng không lạc hướng. Người ta gọi là xe chỉ nam. Năm cỗ xe ấy, Chu Công tặng sứ giả làm vật dẫn đường.
Đoàn sứ nhận xe, men theo bờ biển mà về, qua đất Phù Nam, qua đất Lâm Ấp, ròng rã một năm trời mới về tới nước. Từ đó về sau, người ta bảo, hễ đi sứ phương xa thì xe chỉ nam thường đi trước dẫn đường.
Cốt truyện theo Lĩnh Nam Chích Quái
Đời Chu Thành Vương, Hùng Vương sai bề tôi tự xưng là Việt Thường thị, mang chim trĩ trắng sang dâng nhà Chu.
Ngôn ngữ hai bên hoàn toàn bất đồng. Phải qua nhiều lần phiên dịch (trùng dịch 重譯) Chu Công mới hiểu được. Chu Công hỏi phong tục hàng ngày: người Việt cắt tóc ngắn, để đầu trần, xâm mình, đi chân đất. Tức là vua Chu chẳng biết gì về Việt.
Chu Công hỏi: “Tại sao tới đây?” Sứ giả đáp: “Trời ba năm không có mưa dầm, ngoài biển không nổi sóng lớn, ý chừng Trung Quốc có thánh nhân, nên đến.” Đây là đi tìm đạo, không phải thần dân đi triều cống.
Chu Công nói: “Chính lệnh không thi hành thì quân tử không bắt kẻ khác thuần phục mình. Đức trạch không ban cho người thì quân tử không hưởng lễ của người.” Rồi nhắc lời Hoàng Đế: “Giao Chỉ xa xôi ở cõi NGOÀI, không được xâm phạm đến.”
Sứ giả quên đường về. Chu Công ban cho 5 cỗ xe chỉ nam (指南車), đều chế theo hướng Nam. Sứ giả đi đường biển qua Phù Nam, Lâm Ấp, một năm mới về tới nước.
Truyện kết: “Khổng Tử viết sách Xuân Thu, cho nước Văn Lang là một nơi hoang vu, chưa có văn hiến, nên bỏ trống không chép.”
Toàn bộ truyện chưa tới 200 chữ Hán. Không có bài học đạo đức tường minh. Nhưng mỗi chi tiết đều mang ý hệ: ngôn ngữ bất đồng, Chu Công không biết gì về Việt, chưa có bang giao, sứ giả nói “tìm thánh nhân”, Chu Công từ chối bề trên, Hoàng Đế cấm xâm phạm. Tất cả nhấn mạnh một điều: người Việt không thuộc Trung Quốc.
Hai cách đọc: “triều cống” hay “tìm đạo để học”?
Đây là trục diễn giải trung tâm, quyết định toàn bộ ý nghĩa của Bạch trĩ truyện.
Cách đọc 1: lăng kính “triều cống”. Trong khuôn khổ Hán học phương Tây (Kelley 2005, 2012) và cổ tịch Trung Hoa (Thượng thư đại truyện, Hậu Hán thư), “越裳獻白雉” là tích kinh điển về hệ thống thiên hạ: man di tự nguyện hướng hoá khi đức thiên tử lan tới viễn phương. Kelley kế thừa khung này: giới sĩ phu Đại Việt thế kỷ XV tự nguyện đặt lịch sử dân tộc vào sơ đồ “thiên hạ” Trung Hoa. Vương Mãng được triều đình nhà Hán viện tích này để dâng tôn hiệu An Hán Công năm Nguyên Thủy nguyên niên (1 SCN), Hán Thư, Vương Mãng truyện, cho thấy trong lịch sử Trung Hoa, bạch trĩ từng bị lợi dụng cho mục đích chính trị.
Cách đọc 2: “tìm đạo để học”, trao đổi văn hoá ngang hàng. Khi đọc kỹ chính bản thân truyện, thay vì đọc qua lăng kính sẵn có của Hán học, một hệ thống tín hiệu nội tại trở nên rõ ràng:
(i) Ngôn ngữ hoàn toàn bất đồng. “言語不通”: phải “trùng dịch” mới hiểu nhau. Đây là hai thế giới xa lạ, không cùng ngữ hệ, không cùng sinh hoạt. Trong khuôn khổ “triều cống”, chư hầu đã biết thiên tử. Ở đây, hai bên chưa từng biết nhau.
(ii) Chu Công phải hỏi phong tục. Cắt tóc ngắn, để đầu trần, xâm mình, đi chân đất: vua Chu chẳng biết gì. Một chư hầu trong hệ thống thiên hạ thì thiên tử đã có hồ sơ. Ở đây hoàn toàn trống.
(iii) “Tại sao tới đây?” Câu hỏi “何為而來” chứng tỏ chưa từng có liên hệ ngoại giao. Nếu là triều cống, câu hỏi này vô nghĩa: chư hầu cống là nghĩa vụ.
(iv) “Tìm thánh nhân”: tìm đạo, không phải thần phục. Sứ giả không nói “xin quy thuận”, không nói “xin được phong”. Cái “tìm” là tìm tri thức, tìm đạo, tìm sự tương giao giữa hai nền văn minh. Mang chim đi tặng là mang biểu tượng văn hoá của mình đi giới thiệu: chim là hình tượng trung tâm trên trống đồng Đông Sơn (xem mục Chim trĩ trắng dưới đây). Đó là trao đổi, không phải dâng cống.
(v) “Đức trạch không có cho người thì quân tử không hưởng lễ.” Chu Công tự thừa nhận: nhà Chu từ xưa đến nay không hề có ân đức gì với Văn Lang. Không có quan hệ chủ tớ. Chu Công từ chối nhận vị trí bề trên. Hai bên ngang hàng.
(vi) Lời Hoàng Đế: “Giao Chỉ ở cõi NGOÀI, không được xâm phạm.” Câu quan trọng nhất: chính thiên tử phương Bắc thừa nhận Giao Chỉ nằm ngoài thiên hạ Trung Hoa, và cấm xâm phạm. Trong hệ thống triều cống, chư hầu nằm trong. Ở đây nằm ngoài. Và Hoàng Đế, ông tổ của Trung Hoa, đã tuyên bố bất khả xâm phạm từ thượng cổ.
(vii) Sứ giả “quên đường về”. Đã đến được thì về được: “quên” không có nghĩa đen. Đây là biểu tượng: nền văn minh bạch trĩ của Việt Thường đã bám rễ trên đất Bắc, vua phương Bắc muốn mời về cho nhanh nên ban 5 cỗ xe chỉ nam.
Tất cả các tín hiệu văn bản đều nhấn mạnh một điểm duy nhất: người Việt không thuộc Trung Quốc. Người Việt là quốc gia độc lập, ngoài Trung Quốc, có văn hoá riêng ngang hàng để trao đổi, và Trung Quốc không được xâm phạm.
Cách đọc “triều cống” đặt truyện vào khuôn mẫu Hậu Hán thư. Cách đọc “tìm đạo để học” bám vào các chi tiết tác giả Việt thêm vào và ý đồ biên soạn mà Vũ Quỳnh trình bày trong Tựa. Hai cách đọc vẫn song song tồn tại trong nghiên cứu; các mục dưới đây trình bày cả hai. Riêng điều các chi tiết thêm vào tự tuyên bố thì không cần cách đọc nào thay lời: người Việt độc lập, ngoài cõi Trung Hoa, và bất khả xâm phạm.
Chim trĩ trắng: vật tổ trong mắt người Việt, điềm lành trong mắt nhà Chu
Trong văn hoá Đông Á, trĩ trắng là “thuỵ điểu”, chim điềm lành, dấu hiệu vương đạo thanh minh. Sở từ, Thiên vấn: “厥利維何,逢彼白雉.” Tống thư, Phù thuỵ chí xếp vào nhóm “thuỵ điểu lục thập tứ.” Đó là cách đọc Trung Hoa.
Nhìn từ phía Việt, bạch trĩ mang ý nghĩa khác: chim là vật tổ của dân Việt cổ. Mặt trống đồng Ngọc Lữ (Hà Nam, khoảng 500-300 TCN): chim bay quanh mặt trời ở vị trí trung tâm, xen kẽ với người và hươu, tạo thành vũ trụ quan đặc thù Đông Sơn. Chim trên trống đồng Ngọc Lữ, Hoàng Hạ, Sông Đà là biểu tượng thiêng nhất trong văn hoá vật chất Việt cổ, đại diện cho tinh thần và bản sắc của cộng đồng.
Mang chim trĩ trắng từ ngàn dặm xa đi tặng, vì thế, là mang văn hoá của mình giới thiệu với người phương Bắc, không phải dâng lễ vật triều cống. Bạch trĩ vừa là điềm lành trong mắt Chu Công, vừa là biểu trưng văn hoá Đông Sơn trong mắt tác giả Việt.
Nguồn gốc: Việt hoá cổ tịch Trung Hoa
Cốt truyện Việt Thường thị hiến trĩ trắng có đầy đủ trong nhiều cổ tịch Trung Hoa:
Thượng thư đại truyện (Phục Sinh, đầu Tây Hán), nguồn cổ nhất: “Chu Công nhiếp chính sáu năm, chế lễ tác nhạc, thiên hạ thái bình. Việt Thường dùng ba voi, qua nhiều lần phiên dịch mà hiến trĩ trắng.”
Hậu Hán thư, Nam Man truyện (Phạm Việp, khoảng 445): nguồn LNCQ bám theo gần nhất, nhưng LNCQ thêm hai chi tiết không có trong nguồn Trung Hoa: (a) Chu Công từ chối vị trí bề trên (“đức trạch không có”); (b) lời Hoàng Đế cấm xâm phạm Giao Chỉ.
Sử ký, Chu bản kỷ (Tư Mã Thiên, khoảng 91 TCN): “Việt Thường thị qua chín lần phiên dịch mà đến.”
Cầm thao (Sái Ung, Đông Hán): ghi Chu Công soạn khúc cầm “Việt Thường thao” nhân sự kiện. Nhạc phủ thi tập (Quách Mậu Thiến, Tống) thu lại bài.
Văn tuyển, Đông Kinh phú (Trương Hành, 78-139): “Việt Thường hiến trĩ trắng.”
Ngoài ra còn Hàn Thi ngoại truyện, Trúc thư kỷ niên, Giao Châu ngoại vực ký, Thái Bình ngự lãm Q.785.
Tác giả LNCQ không sao chép thụ động. Họ chủ động đặt lại ngữ cảnh: gắn Việt Thường vào hệ Hùng Vương, biến “man di hướng hoá” thành “hai quốc gia ngang hàng trao đổi văn hoá.” Chi tiết đường về qua Phù Nam, Lâm Ấp bị xáo trộn niên đại (Phù Nam, Lâm Ấp chỉ xuất hiện sau Công nguyên; xe chỉ nam chưa có thời Tây Chu). Nhưng anachronism này là đặc điểm thể loại, không ảnh hưởng đến ý nghĩa biểu tượng.
Vị trí trong Lĩnh Nam Chích Quái
Bạch trĩ là truyện thứ 10 quyển thượng bản Vũ Quỳnh (1492), đứng ở vị trí bản lề giữa cụm thần thoại sáng thế (Hồng Bàng, Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh), cụm phong tục (Trầu cau, Bánh chưng, Dưa hấu), cụm anh hùng (Đổng Thiên Vương) và cụm “lịch sử ngoại giao, chính trị” (Bạch trĩ, Lý Ông Trọng, Kim Quy).
Vũ Quỳnh viết trong Tựa: “Truyện Bạch trĩ thì chép chuyện về nước Việt Thường.”
Cụm 10-13 chứa các truyện liên thông chặt với cổ tịch Trung Hoa: Bạch trĩ (Tây Chu), Lý Ông Trọng (Tần), Kim Quy (Triệu Đà). Đây là bản đồ tâm thức về cách Đại Việt định vị mình trong thời gian Đông Á.
Mối quan hệ với các truyện khác: Hồng Bàng xác lập huyết thống, Dạ Xoa xác lập biên giới Nam (Chiêm Thành), Bạch trĩ xác lập quan hệ ngang hàng với Trung Hoa từ thượng cổ, Kim Quy xác lập sự kế thừa An Dương Vương. Cặp đôi Hồng Bàng và Bạch trĩ là khởi sinh cộng với thừa nhận quốc tế ngang hàng.
Có trong chính sử, nhưng giản lược
Khác với An Tiêm (Tây qua truyện, vắng mặt hoàn toàn trong chính sử), Bạch trĩ có mặt trong ba bộ sử:
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Ngô Sĩ Liên, 1479), Ngoại kỷ Quyển I: chép sự kiện dạng giản lược. Việt Thường thị hiến bạch trĩ; Chu Công nói chính lệnh không thi hành thì quân tử không bắt kẻ khác thuần phục; ban xe chỉ nam đưa sứ về nước. Bản Toàn thư không có chi tiết “ba năm không mưa dầm sóng cả.”
Việt sử lược (khoảng 1377): tóm trong một câu, đến đời Thành Vương nhà Chu, Việt Thường thị mới đem dâng chim trĩ trắng.
Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục: “Việt Thường thị trùng tam dịch nhi lai hiến bạch trĩ.”
Sự hiện diện trong chính sử cho thấy giới sử gia Việt Nam cổ điển coi tích Bạch trĩ là sự kiện lịch sử (dù có hoài nghi), không chỉ là truyện kể, vì nó phục vụ chính thống (legitimacy): xác lập sự tồn tại của Văn Lang ngay từ thời Tây Chu.
Dị bản: những chỗ các bản chép khác nhau
Bạch trĩ truyện hiện diện đầy đủ trong tất cả truyền bản LNCQ chính: A.33, A.750, A.1200, A.1752, A.2017, A.2914, VHv.1266, VHv.1473, A.1516 (Société Asiatique Paris).
Khác biệt chỉ ở tiểu tiết. Bản A.2914: câu kết ghi “nước Văn Lang là một nơi chưa khai hoá, không có việc triều chính, không có chính cương, nên không chép.” Bản phổ biến (VHv.1473): “nước Văn Lang là một nơi hoang vu, chưa có văn hiến, nên bỏ trống không chép.” Sắc thái khác nhau: “chưa khai hoá” (A.2914) nhẹ tay hơn “hoang vu” (VHv.1473).
Bản Toàn thư giản lược triệt để: bỏ lời đối thoại chi tiết, chỉ giữ khung sự kiện. Việt sử lược còn ngắn hơn nữa.
Nghiên cứu học thuật: vị trí trong tranh luận lớn hơn
Bạch trĩ truyện nằm ở tâm tranh luận Kelley, Taylor, Tạ Chí Đại Trường về LNCQ.
Liam Kelley phát triển khung “truyền thống được kiến tạo” (invented tradition, theo Hobsbawm) cho truyện Hồng Bàng thị trong Kelley (JVS 7/2, 2012, tr. 87-130). Riêng với Bạch trĩ truyện, ông áp khung tương tự trong một bài khác: Kelley, “Chim trĩ trắng và mối quan hệ triều cống Hoa-Việt” (blog Le Minh Khai, 27/4/2013) gọi truyện là “tạo tác” của một học giả thời trung đại, ghép nối cổ tịch Trung Hoa chứ không chép sự kiện có thật, phản ánh niềm tự hào của giới sĩ phu Hán hoá về quan hệ triều cống Việt-Trung từ thượng cổ. Kelley phê phán cách đọc dân tộc chủ nghĩa coi đây là trao đổi bình đẳng hay đi tìm học thánh nhân. Ông đọc qua lăng kính triều cống, coi “hiến bạch trĩ” là man di hướng hoá.
Keith Taylor (JVS 2012) phản biện Kelley: LNCQ là quá trình “chồng xếp tư liệu,” không phải đơn văn bản thuần kiến tạo. Đồng ý Bạch trĩ là kiến tạo, nhưng nhấn mạnh lõi truyền khẩu phi tinh hoa.
Tạ Chí Đại Trường (dcvonline.net, 2016) trao đổi với Kelley, đồng tình một phần về tính kiến tạo nhưng phản đối cách áp đặt khung “invented tradition” của Hobsbawm vào bối cảnh Đông Á.
Nguyễn Hữu Vinh và Trần Đình Hoành (2015) đưa ra cách đọc “tìm đạo để học”: phân tích từng chi tiết văn bản để cho thấy truyện nhấn mạnh sự độc lập, ngang hàng, trao đổi văn hoá, không phải triều cống.
Điểm chưa ngã ngũ. Câu hỏi niên đại (truyện định hình khi nào) và câu hỏi ý nghĩa (truyện nói gì) là hai câu hỏi khác nhau. Về niên đại, Kelley và Taylor cùng chỉ ra truyện định hình muộn, trên nền cổ tịch Trung Hoa; chưa có chứng cứ văn bản nào sớm hơn được đưa ra. Về ý nghĩa, hai cách đọc vẫn đối trọng: Kelley đọc qua khung triều cống; Nguyễn Hữu Vinh và Trần Đình Hoành đọc qua chính những chi tiết tác giả Việt thêm vào so với nguồn Trung Hoa (Chu Công từ chối bề trên, Hoàng Đế cấm xâm phạm, ngôn ngữ bất đồng triệt để), những chi tiết không có trong bất kỳ nguồn Trung Hoa nào. Cách đọc của Nguyễn Hữu Vinh và Trần Đình Hoành chưa được đưa vào học thuật phương Tây. Một điều nằm ngoài phạm vi tranh luận: các chi tiết thêm vào ấy khẳng định người Việt độc lập, ngoài cõi Trung Hoa, và bất khả xâm phạm. Đó là lời của chính văn bản.
Di sản sống
Bạch trĩ truyện không có đền thờ, không có lễ hội, không có bộ tem. Di sản của nó nằm ở cấu trúc ý hệ: tuyên ngôn chủ quyền cổ xưa nhất trong văn bản Việt Nam, được đặt vào miệng chính thiên tử phương Bắc.
Câu “Giao Chỉ xa xôi ở cõi ngoài, không được xâm phạm đến”, do Chu Công trích lời Hoàng Đế, là tiền thân tinh thần của “Nam quốc sơn hà nam đế cư.” Không phải qua sự phản kháng mà qua sự đồng thuận hai chiều: Việt tự nguyện đi tìm đạo (không bị bắt buộc), Chu tự nguyện thừa nhận Việt nằm ngoài (không bị ép buộc). Tính tự nguyện hai chiều này tạo nên sức mạnh biểu tượng đặc biệt: chủ quyền Đại Việt không phải do “giành được” hay “được ban cho” mà là trật tự tự nhiên đã có từ thời Hoàng Đế và Chu Công.
Lưu ý khi sử dụng
Tính lịch sử. Bạch trĩ truyện không phải sử liệu đáng tin về sự kiện thế kỷ XI-X TCN. Các yếu tố niên đại đều mâu thuẫn: xe chỉ nam xuất hiện muộn hơn Tây Chu khoảng 600-1000 năm; Phù Nam, Lâm Ấp chỉ có sau Công nguyên; câu kết về Khổng Tử là thêm thắt của tác giả Việt. Giá trị của truyện nằm ở ý nghĩa biểu tượng và ý hệ, không ở tính chính xác sự kiện.
Vị trí Việt Thường thị. Nguồn cổ Trung Hoa chỉ nói “Giao Chỉ chi nam, hữu Việt Thường quốc.” Maspero (BEFEO 16, 1916), Đinh Gia Khánh (1960) và Kelley (2005) đặt Việt Thường ở khu vực miền Trung Việt Nam (Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh) hoặc Lào, không trùng trung tâm Văn Lang ở đồng bằng sông Hồng. Việc LNCQ ráp Việt Thường vào hệ Hùng Vương là sáng tạo của người biên soạn sau khi đã đọc Hậu Hán thư.
Bản dịch khác nhau theo bản nền. Đinh Gia Khánh dịch sát VHv.1473; Lê Hữu Mục dùng A.33; Nguyễn Hữu Vinh tổng hợp HV.486 và VHv.1473; Nguyễn Thị Oanh chuẩn theo A.2914. Cần đối chiếu khi trích dẫn chi tiết.
Thi viện misattribution. Một số trang mạng (trong đó có Thi viện) gán nhầm LNCQ cho Nguyễn Dữ. LNCQ do Trần Thế Pháp soạn, Vũ Quỳnh và Kiều Phú biên tập; Nguyễn Dữ là tác giả Truyền Kỳ Mạn Lục, một tác phẩm khác.