Sự tích dưa hấu

Tây Qua truyện · Truyện dưa hấu · Sự tích quả dưa hấu · Sự tích Mai An Tiêm · Tale of the Western Melon
西瓜傳 · The Origin of the Watermelon
Truyện cổ Bắc Bộ Bối cảnh truyện: thời Hùng Vương (không rõ đời). Bối cảnh sáng tác: cuối TK XIV (Trần Thế Pháp), biên tập 1492-1493 (Vũ Quỳnh và Kiều Phú)
Sự tích dưa hấu

Tây Qua truyện (Truyện dưa hấu) là truyện thứ 8/9 trong Lĩnh Nam Chích Quái, kể về Mai An Tiêm, nô bộc ngoại quốc thời Hùng Vương bị đày ra đảo hoang Nga Sơn vì tuyên bố của cải là vật tiền kiếp. Trên đảo, chim từ phương Tây mang hạt dưa đến, An Tiêm trồng thành Tây Qua (dưa hấu), trao đổi với thuyền chài thuyền buôn rồi được vua gọi về. Truyện là huyền thoại nguyên nhân luận (etiological myth) giải thích nguồn gốc dưa hấu ở Việt Nam, đồng thời mã hóa giá trị tự lực và cần lao. Về mặt thực vật học, truyện hoàn toàn anachronistic: Citrullus lanatus có nguồn gốc Đông Bắc Phi, chỉ đến Trung Quốc TK X qua Khiết Đan và Hồi Cốt, đến Đại Việt sớm nhất TK XII-XIII. Truyện không xuất hiện trong ba bộ chính sử Việt Nam. Được tiểu thuyết hóa bởi Nguyễn Trọng Thuật (Quả dưa đỏ, 1925) và Tô Hoài (Đảo hoang, 1970).

Chuyện kể

Ngày xưa, vào đời Hùng Vương, có chiếc thương thuyền từ phương xa ghé vào bến nước Văn Lang. Trên thuyền có đứa trẻ chừng bảy tám tuổi, mặt mũi sáng sủa, ăn nói gãy gọn. Vua Hùng thấy mến, mua về nuôi trong cung. Đứa trẻ ấy lớn lên diện mạo đoan chính, học một biết mười, việc gì giao cũng làm nên việc. Vua yêu lắm, đặt tên cho là Mai Yển, ban hiệu An Tiêm, cưới vợ cho, lại cho làm chức quan hầu cận bên mình. Vợ chồng An Tiêm sinh được một trai một gái. Nhà cửa mỗi ngày một đầy, kẻ hầu người hạ ra vào không ngớt. Từ một đứa trẻ bị đem bán nơi bến nước, An Tiêm thành người có danh phận giữa triều.

Người đời trông vào, ai cũng bảo An Tiêm tốt phúc, nhờ ơn vua mà nên. Riêng An Tiêm nghĩ khác. Ông bảo: của cải trong nhà này là vật tiền thân của ta, từ kiếp trước mà có, ta chẳng cần nhờ ơn ai ban cho. Lời ấy truyền đến tai vua. Vua giận lắm. Kẻ nô bộc ta mua về, ta nuôi, ta gả vợ, ta phong chức, nay dám nói không cần ơn vua. Triều thần họp bàn định tội, người xin xử chết, kẻ xin chặt gót chân cho hết đường đi đứng. Sau có một vị quan già tâu rằng: giết thì dễ quá, chi bằng đày hắn ra bãi cát hoang ngoài cửa biển, xem cái vật tiền kiếp của hắn có nuôi nổi hắn giữa chốn không người hay không. Vua nghe theo, sai đày cả nhà An Tiêm ra bãi cát ngoài cửa biển Nga Sơn.

Thuyền quan chở bốn người ra khơi, thả xuống bãi rồi quay mũi về đất liền. Bãi cát trơ trọi giữa trời nước, lơ thơ mấy bụi cây dại, quanh quẩn chỉ có dấu chân chim. Người vợ ôm hai con mà khóc, than rằng phen này cả nhà chết ở đây mất. An Tiêm nói: “Trời đã sinh ra ta, sống chết là ở Trời và ở ta, việc gì phải lo.”

Nói rồi làm. Vợ chồng chặt cây dại dựng lều, khuân đá kê chỗ nằm. Ngày ngày ra mép nước bắt ngao bắt ốc, hái rau dại ven bãi, hứng nước mưa mà uống. Cứ thế bữa đói bữa no, qua hết mùa gió này sang mùa gió khác.

Một buổi kia, có con chim trắng từ hướng tây bay tới, lượn mấy vòng trên doi cát, nhả xuống mấy hạt đen nhỏ rồi vỗ cánh bay đi. Ít lâu sau, chỗ ấy mọc lên loài dây leo lạ, lá xẻ, bò lan trên cát nóng như thể sinh ra để sống ở đấy. Dây đơm hoa, kết những quả tròn to, vỏ xanh thẫm bóng mượt, nằm lăn lóc khắp bãi. Cả nhà nhìn quả lạ, chưa ai dám nếm. Rồi một hôm đàn quạ sà xuống mổ vỡ một quả, ăn lấy ăn để. An Tiêm bảo vợ: chim ăn được thì người ăn được. Ông bổ một quả ra. Vỏ xanh nứt, ruột bên trong đỏ tươi, hạt đen xếp lớp, nước ngọt ứa ra. Giữa bãi cát bỏng chân, miếng ruột đỏ ấy mát như vục tay vào nước suối. Quả do chim từ hướng tây mang hạt đến, An Tiêm bèn gọi là Tây Qua, nghĩa là quả phương tây.

Vợ chồng để dành hạt, mùa sau trồng khắp bãi. Giống dưa hợp cát, quả sai không xuể, ăn chẳng hết. An Tiêm nghĩ cách đem đổi lấy cái khác, nhưng bãi hoang giữa biển, ai biết mà tìm đến? Ông bèn khắc tên mình vào vỏ dưa, đem thả xuống nước cho sóng mang đi. Dưa trôi dạt vào bờ, thuyền chài vớt được, bổ ra ăn thấy ngon lạ, lần theo con nước tìm ra bãi. Thuyền buôn nghe tiếng cũng ghé. Người ta chở gạo, chở vải, chở đồ dùng đến đổi lấy dưa. Bãi hoang không tên ngày nào, dần dà thành chỗ thuyền bè lui tới.

Tiếng quả lạ vỏ xanh ruột đỏ đồn về đến kinh đô. Vua Hùng nếm thử, thấy ngọt mát chưa từng có, hỏi ra mới biết dưa từ bãi Nga Sơn, của chính người bề tôi mình đày đi năm xưa. Vua ngồi lặng hồi lâu, rồi thở dài: “Hắn nói là do ở kiếp trước, điều đó quả thực không ngoa.” Vua sai sứ vượt biển ra bãi, đón cả nhà An Tiêm về kinh, trả lại chức cũ, ban thêm nô tỳ. An Tiêm đem dưa về dâng vua, hạt giống từ đó theo chân người lan ra khắp nơi.

Bãi cát nơi ông ở được gọi là bãi An Tiêm, xóm dựng nơi ấy gọi là làng Mai. Tương truyền đất ấy nay thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Còn giống quả vỏ xanh ruột đỏ thì ở lại với người Việt, mỗi mùa nắng lại bày trên mâm, và người đời sau nhớ ơn người trồng nó, tôn An Tiêm là ông tổ dưa hấu.


Cốt truyện theo Lĩnh Nam Chích Quái

Đời Hùng Vương, có người tên Mai An Tiêm vốn là người ngoại quốc, được vua mua từ thương thuyền về nuôi từ lúc bảy tám tuổi. Lớn lên diện mạo đoan chính, thông minh lanh lợi. Vua đổi tên cho là Mai Yển, ban hiệu An Tiêm, gả vợ, phong chức quan thân cận. Sinh con trai, con gái.

An Tiêm nói: “Của cải này là vật tiền thân của ta, ta không cần nhờ ơn vua ban.” Vua giận, coi là vô ơn. Đày cả gia đình ra đảo cát hoang ngoài cửa biển Nga Sơn.

Trên đảo, chim trắng từ phương Tây bay đến, nhả hạt xuống bãi cát. Hạt mọc thành dây leo, kết quả vỏ xanh ruột đỏ, vị thanh ngọt. An Tiêm gọi đó là “Tây Qua”, quả từ hướng Tây. Vợ chồng khắc tên lên vỏ dưa, thả ra biển. Thuyền chài thuyền buôn ăn thấy ngon, đem vật phẩm đến đổi. Tin truyền về kinh. Vua thử, hối hận, sai sứ gọi về. Phục chức, ban nô tỳ.

Bãi cát gọi là bãi An Tiêm, thôn gọi là làng Mai. Tương truyền nay thuộc làng An Tiêm, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Truyện kết ở đó. Không có bài học đạo đức tường minh, không có lời bình, chỉ có sự kiện và một địa danh. Ngắn gọn đến mức khô khan. Toàn bộ sự dày vò tâm lý, chiến đấu sinh tồn, và triết lý “của biếu là của lo” mà người Việt gắn với truyện này đều là sản phẩm bổ sung muộn hơn.

Về nhân vật, đền thờ, lễ hội và tiếp nhận hiện đại: xem entry Mai An Tiêm. Entry này tập trung vào văn bản truyện.

Cấu trúc truyện

Nhìn theo khung tường thuật, Tây Qua truyện có 5 nhịp:

1. Thiết lập. An Tiêm: ngoại quốc, nô bộc, được vua cất nhắc. Thân phận lệ thuộc hoàn toàn.

2. Tội. Một câu nói. Không phải hành động phản loạn, không phải tham nhũng. Chỉ là tuyên bố: của cải của ta là do kiếp trước, không phải do vua ban. Tội ở đây là tư tưởng, không phải hành vi. An Tiêm phủ nhận mối quan hệ bảo trợ, tức là chạm vào logic căn bản của trật tự phong kiến: mọi thứ là của vua.

3. Lưu đày. Đảo hoang, không vũ khí, không lương thực, không quan hệ xã hội. Đây là tình trạng “zero”: bị tước hết mọi thứ mà xã hội cấp cho.

4. Phát hiện và tái lập. Chim mang hạt, trồng dưa, khắc tên lên vỏ, thả biển, trao đổi. Chuỗi này hay ở chỗ An Tiêm không được cứu bởi thần linh: chim chỉ mang hạt, phần còn lại là lao động và sáng kiến. Khắc tên lên vỏ dưa thả biển là sáng kiến tạo nhận diện cho sản vật và mở kênh trao đổi từ một hòn đảo không ai biết tới.

5. Phục hồi. Vua hối hận, gọi về. An Tiêm chứng minh câu nói ban đầu đúng: ông không cần ơn vua, ông tự tạo giá trị. Nhưng ông vẫn nhận phục chức. Truyện không lật đổ hệ thống, chỉ chứng minh cá nhân mạnh hơn hệ thống nghĩ.

Cấu trúc 5 nhịp này (tước đoạt, thử thách, phát hiện, trao đổi, phục hồi) không trùng khớp chính xác với bất kỳ type nào trong chỉ mục Aarne-Thompson-Uther (Uther 2004). Nhưng nó kết hợp nhiều motif quốc tế: anh hùng bị lưu đày (L111.4), nguồn gốc thực vật thần kỳ (A2611), chim giúp đỡ (B450), phát hiện may mắn (N440-N499), và motif vật thả biển trở về gần type AT 736A.

Vị trí trong Lĩnh Nam Chích Quái

Tây Qua truyện là truyện thứ 8 hoặc 9 tùy bản, nằm trong nhóm truyện giải thích nguồn gốc sự vật, cùng với trầu cau (Tân Lang truyện), bánh chưng bánh giày, v.v. Trong bản 22 truyện của Vũ Quỳnh (1492), truyện đứng sau Truyện bánh chưng.

Truyện thuộc thể loại mà Nguyễn Đổng Chi gọi là “cổ tích lịch sử / cổ tích thần kỳ giải thích nguồn gốc sự vật”: truyện vừa giải thích một hiện tượng (dưa hấu đến từ đâu?) vừa gắn vào khung lịch sử (thời Hùng Vương). Bùi Duy Tân (Truyện ngắn Việt Nam, NXB Giáo dục 2007, tr. 127) gọi nó là “cổ mẫu” (archetype) về sự ra đời của văn hóa vật chất, tiếp cận theo phương pháp Địa-Văn hóa (Géo-Culture).

So với các truyện khác trong LNCQ, Tây Qua truyện có đặc điểm riêng: yếu tố thần kỳ rất tiết chế. Không có thần hiện, không có phép thuật, không có biến hình. Chim trắng mang hạt là yếu tố siêu nhiên duy nhất, và nó mờ nhạt, gần với sự kiện tự nhiên hơn là phép lạ. So với Hồ Tinh (cáo chín đuôi biến hình nuốt người), Ngư Tinh (rắn biển khổng lồ), hay Mộc Tinh (cây tinh ăn thịt dân), truyện An Tiêm gần như hiện thực. Nhân vật thắng không phải bằng sức mạnh siêu nhiên mà bằng lao động.

Không có trong chính sử, và ý nghĩa của chỗ vắng mặt

Mai An Tiêm không xuất hiện trong bốn bộ sử-văn liệu chính thống:

Việt sử lược (c. 1377), sử Việt sớm nhất còn tồn tại, chỉ ghi Hùng Vương ở Gia Ninh dùng phép thuật thu phục bộ lạc. Không tiên, không rồng, không dưa hấu.

Việt Điện U Linh Tập (Lý Tế Xuyên, 1329) chép thần linh được phong sắc. An Tiêm không nằm trong phạm vi biên soạn. Chi tiết trùng hợp: Lý Tế Xuyên giữ chức “Chuyển vận sứ An Tiêm lộ”, đơn vị hành chính thời Trần thuộc vùng Nam Định (theo Aurousseau). Cùng tên, khác vật.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Ngô Sĩ Liên, 1479): phần Ngoại kỷ Quyển I ghi kỷ Hùng Vương tổng quát. Không có An Tiêm.

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (triều Nguyễn, 1856-1881): tương tự. Tổng quát, im lặng.

Điều này tách biệt An Tiêm khỏi Âu Cơ và Lạc Long Quân. Hai nhân vật kia được Ngô Sĩ Liên đưa vào chính sử năm 1479 (dù kèm ngoặc hoài nghi “[tục truyền sinh bách noãn]”). An Tiêm không được đặc ân đó. Ông mãi ở bên kia ranh giới, trong dòng truyền kỳ và truyền khẩu, không bao giờ vào sử.

Chỗ vắng mặt này quan trọng vì nó cho thấy giới sử gia Việt Nam cổ điển phân biệt rõ: truyện Hồng Bàng, Âu Cơ phục vụ chính thống (legitimacy) nên được chép; truyện An Tiêm là truyện kể, hay thì hay nhưng không cần vào sử.

Dưa hấu thực: khoa học nói gì

Tên “Tây Qua” 西瓜 nghĩa đen trong tiếng Hán: “dưa phương Tây.” Truyện giải thích: chim bay từ hướng Tây, nên gọi vậy. Thực tế: “Tây” trong tên Hán chỉ Tây Vực, tức Trung Á, vùng Khiết Đan và Hồi Cốt, nơi người Trung Quốc lần đầu thấy quả này. Truyện Việt Nam thực hiện một folk etymology: lấy tên gọi có sẵn, gắn vào narrative mới.

Citrullus lanatus có nguồn gốc Đông Bắc Phi: vùng Sudan, Ai Cập, Libya. Hạt hoang dã 5.000 năm tuổi tại Uan Muhuggiag, Libya (van der Veen & Wasylikowa 2004). Tranh mộ Pharaoh ~2350 TCN vẽ quả dưa có sọc. Gen gần đây (Renner et al. 2015): tổ tiên gần nhất là dưa Kordofan (C. lanatus subsp. cordophanus), Sudan.

Đến Trung Quốc: Hồ Kiều (đời Hậu Tấn, bị Khiết Đan giữ 947-953) ghi trong Hãm Lỗ Ký: Khiết Đan phá Hồi Cốt (924) được giống dưa, trồng bằng phân trâu, quả to vị ngọt. Đến Trung Nguyên thực sự với Hồng Hạo (sứ thần Nam Tống, bị Kim giữ 1129-1143), mang hạt về. Lý Thời Trân tổng kết (Bản Thảo Cương Mục 1578): “Dưa hấu vào Trung Quốc từ đời Ngũ Đại.”

Hệ quả: dưa hấu chỉ đến Việt Nam TK XII-XIII sớm nhất, qua giao lưu Nam Tống và Đại Việt thời Lý-Trần. Truyện đặt dưa vào thời Hùng Vương (2879-258 TCN), sai lệch 2.000-3.000 năm. Tây Qua truyện (soạn cuối TK XIV, hiệu chỉnh cuối TK XV) lấy bối cảnh đương đại của tác giả, khi dưa hấu đã trồng ở Đại Việt 200-300 năm, chiếu ngược về thời lập quốc.

Anachronism này không phải lỗi; nó là đặc điểm thể loại. Huyền thoại nguyên nhân luận (etiological myth) luôn giải thích cái-hiện-tại bằng cái-rất-xưa. Truyện không nói “dưa hấu đến TK XIII qua thương mại với Trung Quốc” vì câu đó không có sức mạnh biểu tượng. Truyện nói “dưa hấu có từ thời dựng nước, do Trời cho” vì câu đó gắn sản vật với bản sắc.

Dị bản: những chỗ các bản chép khác nhau

Bản Hán với nhau. Bản nền HV 486 (dùng trong Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết Tùng San 1992): ngắn, kết thúc nhanh. Bản A.2914: dài hơn, thêm “vật của kiếp trước,” xác định Nga Sơn, Thanh Hóa. Tên đảo: Nham 岩 (đá), Giáp 莢 (vỏ đậu), hoặc trống. Bản A.2914 cẩn thận neo truyện vào địa lý đương đại, thao tác mà bản nền không làm.

Bản Hán vs. truyền khẩu. Nguyễn Đổng Chi (1957) thu thập bản dân gian có nhiều chi tiết vắng trong bản Hán: vợ tên nàng Ba; câu “Của biếu là của lo, của cho là của nợ”; đàn quạ mổ quả lạ trước khi An Tiêm thử ăn; triều đình bàn tán án xử (tử hình vs. chặt gót vs. đày đảo); An Tiêm khắc dấu vỏ dưa thả biển rồi thuyền chài tìm đến. Bản truyền khẩu kịch tính hơn, có xung đột triều đình, có tên nhân vật phụ; đều là sản phẩm bổ sung của truyền thống kể chuyện thế kỷ XIX-XX.

Bản tiểu thuyết hóa. Nguyễn Trọng Thuật (Quả dưa đỏ, 1925) biến An Tiêm thành nhà phiêu lưu kiểu Robinson, ý thức rõ nguồn cảm hứng từ Defoe. Tô Hoài (Đảo hoang, 1970) đổi tên vợ thành Nàng Hoa, đổi người phát hiện dưa từ An Tiêm sang con trai Mon, thêm tình tiết trị thủy. Cả hai đều lấy truyện ngắn vài trăm chữ Hán rồi thổi thành narrative đầy đủ: tâm lý, xung đột, bài học đạo đức mà nguyên bản không hề cung cấp.

Motif so sánh

Với folklore Trung Quốc. Dưa hấu trong văn liệu Trung Quốc không có truyện nguồn gốc thần thoại. Hồ Kiều, Hồng Hạo, Lý Thời Trân đều ghi con đường du nhập vật chất (thương mại, chiến tranh, ngoại giao), không có chim thần hay anh hùng bị đày. Truyện Việt Nam biến cây trồng ngoại lai thành sản vật lập quốc: thao tác mythologization mà phía Trung Quốc không thực hiện.

Với folklore Đông Nam Á. Motif “anh hùng bị đày phát hiện cây trồng” có biến thể: truyện nguồn gốc lúa (Mã Lai, Indonesia), nguồn gốc sầu riêng (Mã Lai), hoàng tử/công chúa bị đày phát hiện sản vật (Lào, Thái). Cấu trúc chung (lưu đày, thử thách, phát hiện, phục hồi) phổ biến. Không có bản trùng khớp chính xác.

Robinson tiền-Defoe. An Tiêm bị đày đảo hoang, tự xoay xở, tái lập liên lạc bằng trao đổi hàng hóa. Nguyễn Trọng Thuật nhận ra cấu trúc Robinson ngay khi viết tiểu thuyết (1925). Vũ Ngọc Phan, Phạm Thế Ngũ xác nhận. Nói rằng An Tiêm là “Robinson Việt Nam” không phải phóng đại: truyện có cấu trúc tương tự, chỉ khác ở chỗ An Tiêm có gia đình đi cùng (không đơn độc) và yếu tố thần kỳ (chim mang hạt) thay cho yếu tố ngẫu nhiên (xác tàu trôi dạt).

Motif divine providence. Chim từ phương Tây = Trời cho. “Vật tiền kiếp” = nhân quả Phật giáo. Trần Đình Hoành (2010) ghi nhận “phương Tây” trong ngữ cảnh Việt Nam thế kỷ XIV cũng gợi hướng Phật giáo du nhập. Lê Hữu Mục (1961) diễn giải truyện là biểu trưng “lòng tin ở Trời và ở cần lao”: providence cộng với labor, không phải providence thay labor.

Nghiên cứu học thuật: vị trí trong tranh luận lớn hơn

Tây Qua truyện không phải trọng tâm của bất kỳ tranh luận học thuật lớn nào, không như Hồng Bàng thị truyện (tranh luận Kelley, Taylor, Tạ Chí Đại Trường). Nhưng nó nằm trong vùng ảnh hưởng của tranh luận đó.

Liam Kelley (JVS 2012) đặt khung “truyền thống được kiến tạo” (invented tradition, theo Hobsbawm) cho toàn bộ LNCQ. Nếu khung này đúng, Tây Qua truyện cũng là sản phẩm tri thức cuối TK XV, không phản ánh truyền thống tiền-TK XV.

Keith Taylor (phản hồi Kelley, JVS 2012) thừa nhận kiến tạo nhưng nhấn mạnh lõi truyền khẩu phi-tinh hoa. Áp dụng cho Tây Qua truyện: motif lưu đày, phát hiện, trao đổi có thể cổ hơn văn bản, ban đầu gắn với cây trồng khác (lúa? đậu?) rồi được “dán nhãn” dưa hấu khi dưa hấu phổ biến ở Đại Việt TK XIII-XIV.

Nguyễn Thị Oanh (2025) so sánh LNCQ với Nhật Bản linh dị ký (Nihon ryōiki), chứng minh tính “đồng văn” Đông Á trong loại hình ký quái. Tây Qua truyện, với yếu tố “vật tiền kiếp” (khái niệm nghiệp báo), nằm trong quỹ đạo ảnh hưởng Phật giáo chung với các bản ký quái Nhật, Hàn.

Dữ kiện thực vật học đặt giới hạn chung cho mọi cách đọc: dưa hấu chưa có ở Đông Á thời Hùng Vương, nên riêng lớp dưa hấu của truyện không thể phản ánh sự kiện thời lập quốc. Dữ kiện này xác định niên đại của lớp vật chất; nó không tự trả lời câu hỏi truyện có lõi truyền khẩu cổ hơn hay không.

Điểm chưa ngã ngũ: truyện có lõi tiền-văn bản hay hoàn toàn kiến tạo? Anachronism dưa hấu cho thấy ít nhất lớp vỏ (dưa hấu, tên Tây Qua) là sản phẩm TK XIV-XV; điểm này cả hai phía cùng ghi nhận. Lõi (anh hùng bị đày, tự lực, phục hồi) có thể cổ hơn, nhưng “có thể” không phải bằng chứng, và chưa bên nào đưa ra được bằng chứng quyết định.

Di sản sống

Đền thờ Mai An Tiêm tại xã Nga Phú, Nga Sơn, Thanh Hóa: Di tích Quốc gia. Lễ hội 12-15 tháng 3 âm lịch hằng năm. Thương hiệu “Dưa hấu Mai An Tiêm” đang được khôi phục. Đường phố mang tên Mai An Tiêm ở nhiều thành phố. Bộ tem bưu chính 4 mẫu + 1 bloc. Chi tiết về đền thờ, lễ hội và các tôn xưng: xem entry Mai An Tiêm.

Di sản bền nhất của truyện nằm ở cấu trúc: một người bị tước hết, chỉ còn lời nói và đôi tay, rồi xây lại từ zero. Cấu trúc đó được kể lại mỗi khi ai đó nói “tự lực cánh sinh”, dù không nhắc tên An Tiêm. Truyện đã hòa tan vào ngôn ngữ.

  1. Trần Thế Pháp (soạn TK XIV), Vũ Quỳnh và Kiều Phú (biên tập 1492-1493). Lĩnh Nam Chích Quái . Tây Qua truyện (西瓜傳) . Bản Hán: Trần Khánh Hạo chủ biên, Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết Tùng San, Học Sinh Thư Cục Đài Bắc 1992 (bản nền HV 486). Bản dịch: Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc San, NXB Văn hóa 1960; Lê Hữu Mục, NXB Khai Trí 1960/1961; Bùi Văn Nguyên, NXB KHXH 1993; Nguyễn Hữu Vinh dịch, Trần Đình Hoành bình, dotchuoinon.com 2015; Nguyễn Thị Oanh, NXB KHXH 2025..
  2. Nguyễn Đổng Chi. Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam . Tập II, 'Sự tích dưa hấu' . NXB Sử học/KHXH, Hà Nội, 1957-1982 (5 tập).
  3. Henri Maspero. Études d'histoire d'Annam. IV. Le Royaume de Văn-lang . BEFEO 18/3 (1918), tr. 1-36 .
  4. Émile Gaspardone. Bibliographie annamite . BEFEO 34 (1934), tr. 1-174 .
  5. Liam C. Kelley. The Biography of the Hồng Bàng Clan as a Medieval Vietnamese Invented Tradition . Journal of Vietnamese Studies 7/2 (2012), tr. 87-130 .
  6. Keith Weller Taylor. Comments on Liam Kelley . JVS 7/2 (2012) .
  7. Tạ Chí Đại Trường. Trao đổi với Liam Kelley . 2016 (dcvonline.net).
  8. Bùi Duy Tân. Truyện ngắn Việt Nam: Lịch sử, Thi pháp, Chân dung . tr. 127 . NXB Giáo dục, 2007.
  9. Nguyễn Thị Oanh. Lĩnh Nam chích quái (Khảo luận, Dịch chú, Nguyên bản chữ Hán) . NXB KHXH 2025.
  10. Susanne S. Renner et al.. Origin and emergence of the sweet dessert watermelon, Citrullus lanatus . Annals of Botany 116/2 (2015), tr. 133-148 .
  11. M. van der Veen & K. Wasylikowa. An archaeobotanical contribution to the history of watermelon . Vegetation History and Archaeobotany 13 (2004) .
  12. Lý Thời Trân. Bản Thảo Cương Mục (本草綱目) . 1578.
  13. Hồ Kiều (胡嶠). Hãm Lỗ Ký (陷虜記) . 947-953, dẫn trong Âu Dương Tu, Tân Ngũ Đại Sử 新五代史.
  14. Hồng Hạo (洪皓). Tùng Mạc Kỷ Văn (松漠紀聞) . 1156 (viết sau khi bị Kim giữ 15 năm, 1129-1143).